Hanoi Website

Ba cụ cựu chiến binh trung liệt ở Hà Thành

Cổng thành cửa Bắc năm 1800 (ảnh sưu tầm)

Tấm gương tử tiết của 3 cụ “cựu chiến binh” thể hiện khí phách của các nghĩa sỹ không may lỡ vận thì phơi bầy tấm gan trung cho người đời sau soi.

Phương Minh thi tập của Phan Văn Ái có bài Vịnh 3 liệt sỹ “… Một nền chính khí trơ mưa gió/ Ba khối hùng tâm chọi bể dâu/ Nợ với giang sơn đành phải trả/ Người mà sà huỷ kể vào đâu/ Lòng trung chỉ có lòng trung biết/ Đỗ Phủ ngày xưa khóc Vũ Hầu…”.

Thân thế và sự nghiệp lẫy lừng của 3 vị sử sách đã ghi và dân gian lưu truyền từ đời này sang đời khác. Hà thành thất thủ, mỗi cụ chọn cho mình một cái chết khác nhau nhưng đều lẫm liệt trong tư thế của một quân nhân.

Năm 1873, Nguyễn Tri Phương ra Bắc lần thứ hai. Lần này ông có trách nhiệm rất nặng nề là giữ thành Hà Nội. Là một danh tướng, vào Nam ra Bắc, đánh dư trăm trận, một vị tướng tài ba rất đáng tin cậy của triều đình. Nhà vua đã phong cho ông là Trung liệt bá. Nhân dịp mừng thọ ông 70 tuổi, vua Tự Đức đã ban chữ: “Thọ kinh bách chiến hậu. Vọng trọng lục khanh trung” (Tiệc thọ sau 100 trận. Danh cao giữa 6 ông ) tức lục bộ thượng thư.

Đêm 19 rạng sáng ngày 20/11/1873, F. Garnier bất ngờ đánh úp thành. Sau khi dồn dập bắn đại bác quân Pháp lao lên tấn công. Nguyễn Tri Phương thúc quân đánh rất quyết liệt. Ông cùng con trai là phò mã Nguyễn Lâm (ra thăm bố) giữ cửa Đông - Nam, nơi quân Pháp đánh phá dữ dội.

Phò mã Nguyễn Lâm trúng đạn, hy sinh tại chỗ còn ông bị thương nặng, kiên quyết không cho quân Pháp cứu chữa, tuyệt thựcc gần một tháng và mất vào ngày 20/12/1873, thọ 73 tuổi.

Trong đền Trung Liệt, nơi thờ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu có đôi câu đối: “Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa/ Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên”. (Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất/ Là trời cao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh).

Chín năm sau, giặc Pháp nố súng tấn công Hà Nội lần thứ 2. Trấn thủ kinh thành lần này là quan Tổng đốc Hoàng Diệu.

Nhận lệnh ra Hà Nội làm Tổng đốc, thực chất là để trấn giữ Thành sau khi Nguyễn Tri Phương mất. Lúc này tình hình rất căng thẳng. Quân Pháp rắp tâm chiếm Hà Nội và một số tỉnh khác ở Bắc Bộ.

Henri Riviere gửi tối hâu thư buộc phải mở cửa thành, giao nộp vũ khí và các quan chức phải ra trình diện. Đáp lại, Hoàng Diệu ra lệnh sẵn sàng nghênh chiến. Rạng sáng ngày 25/4/1882, H.Riviere hạ lệnh công kích.

Cuộc chiến đấu không cân sức, thành bị vỡ, quân sĩ bỏ chạy. Biết không giữ nổi thành, ông đã cắn ngón tay lấy máu viết di biểu tạ tội gửi vua Tự Đức: “Thành mất không cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thần chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng…” rồi ông tới bên Võ Miếu, thắt cổ tự vẫn không chịu sa vào tay giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Cao nổi lên như  một vị chỉ huy xuất sắc của phong trào Cần vương. Ông là một vị tướng cầm quân tài giỏi, đánh cho quân Pháp nhiều trận thiệt hại nặng nề.

Dân chúng ca ngợi ông “Tặc uý như thần/ Dân thân như phụ” (Giặc sợ hãi như thần/ Dân yêu quý như cha). Viên Công sứ Bắc Ninh nói về ông: Nguyễn Cao là một trong những yếu nhân của phong trào Văn Thân. Ông giữ một địa vị quan trọng trong hàng ngũ những người chống đối, ông rất được trọng vọng.

Bọn tay sai theo dõi ông từng bước. Ngày 4/4/1887, ông bị chúng bắt. Dụ dỗ không được, chúng tra tấn ông rất dã man. Ông tuyệt thực, dùng móng tay rạch bụng lòi ruột cho đến chết nhưng Pháp vẫn lập phiên toà xử tử ông. Chúng chém rồi bêu đầu ông hòng doạ dân chúng.

Nguyễn Quang Bích, bạn chiến đấu của ông đã khóc ông bằng một bài thơ: “Nguy nan xử trí vẫn thung dung/ Chê kẻ tham sinh giọng nói hùng/ Mắng giặc người xưa tròn phận chết/ Moi lòng ông cũng tỏ gan trung/ Quân giặc đứng trông đều hoảng sợ/ Mai này nước sẽ biểu dương ông”.

Đủ ba tấm gương trung liệt, phơi bầy nghĩa khí trung kiên. Đó cũng là một cách duy trì sức sống của dân tộc. Sức sống ấy như các lớp sóng trường giang, diễn tiến thường xuyên và liên tục. Ta thường nói đến khí thiêng sông núi. Khí thiêng ấy được thể hiện qua khí phách của các nghĩa sỹ anh hùng.
Bởi vậy, có những cái chết là sự trường tồn cùng lịch sử!

Xuân Lộc
Theo Dân trí

Hà Nội mùa thu