Hanoi Website

Hà Nội trong tôi

Tôi biết Hà Nội từ tháng 9 – 1945, lúc tròn 7 tuổi. Là học trò nhỏ ở một thị trấn hẻo lánh, tôi chưa được nhà trường dạy về Hà Nội, còn trong nhà tôi chẳng có mối liên hệ gì đến Hà Nội. Sau cách mạng Tháng Tám, các anh tôi tham gia đội thiếu nhi, được đi rước đèn, ca hát. Một lần các anh làm đèn trung thu, có mấy đèn ngôi sao và một đèn hình chữ S.

Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Trên đèn hình chữ S có ghi các Thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Huế là quê tôi, Sài Gòn là nơi ba tôi thường kể về những năm đi làm thợ. Bây giờ tôi mới biết Hà Nội và biết ở đó có “Già Hồ”.

Thế rồi cuộc kháng chiến bùng nổ. Từ “Khu Bốn chạy ra, từ Khu Ba chạy vào”. Thanh Hoá trở thành điểm hội tụ của cả nước, không chỉ có dân mà có cả văn nghệ sĩ, tướng lĩnh…Tôi đã làm quen được nhiều người Hà Nội từ các bạn nhỏ cùng học, bà con làm ăn, viên chức…Qua những anh chị làm công tác văn nghệ, tôi thuộc một bài hát mà sau này trở thành chuyện khá “độc đáo”. Năm 1997, Đoàn kịch Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh diễn vở “Luỹ Hoa”. Chúng tôi mời đoàn đến đài thu hình, nhưng đề nghị dùng nhạc nền cho vở kịch là bài hát mà tôi đã thuộc từ trong kháng chiến chống pháp, rất phù hợp với kịch “Luỹ Hoa”. Đáng tiếc nàh đạo diễn ít tuổi hơn tôi nên không biết bài này. Tôi gọi điện thoại cho các anh nhạc sỹ lớn đã “sống chết với Thủ đô” thì đều không nhớ. Tôi dốt nhạc không thể tự chép bài hát để anh em phối và trình bày. Đó là bài tôi không nhớ đầu đề mà gọi là bài “Sống chết với Thủ đô”. Bài có đoạn đầu:

“Sống chết với Thủ đô, bao thanh niên Việt Nam chúng ta. Làm trai gan sắt cố giữ vững Sơn hà…”

Thế rồi một hôm tôi nghe qua đài phát thanh hát bài này đã làm tôi nhớ lại buổi đầu được nghe và học thuộc bài hát đó. Trên bờ sông Chu (Thanh Hoá) vào mùa hè năm 1950, có một nhóm các anh lớn đã hát bài này. Tôi thấy bài hát hùng hồn, thể hiện tấm lòng tha thiết với Thủ Đô, nên xin học và thuộc rất nhanh.

Hoà bình lập lại, đầu 1955 tôi đeo chiếc ba lô nhỏ, đựng hai bộ quần áo, từ Thanh Hoá đến Hà Nội. Bàng hoàng đến hốt hoảng trước ánh điện, xe cộ, lượng người đi lại của Hà Nội. Rồi tôi lang thang tìm đến chỗ các anh chị công tác. Và từ đó, tôi làm việc ở báo Nhân dân, trở thành một thanh niên của Hà Nội “Ngàn năm văn vật”. Bạn bè cũ nghe tôi công tác ở Hà Nội đều tỏ ý vui mừng và mơ ước.  Tôi tự hào về việc được làm công dân Hà Nội, viết về Hà Nội và tham gia các hoạt động văn hoá của tuổi trẻ Thủ đô. Được gọi là dân Hà Nội tôi đã phải qua một thời gian ngờ nghệch, lúng túng mà bây giờ các bạn trẻ nghe kể lại cứ tưởng…bịa. Tôi cũng đã chúi mũi đụng vào tủ kính đễem hàng, đã tưởng “tầm quất” là một món ăn, đã uống bia pha đường cho đỡ…đắng. Phải “luyện giọng” xoá thứ tiếng Huế pha tiếng Thanh Hoá để cho phù hợp với người Hà Nội…Từ một thanh niên thị trấn nhỏ của Khu Bốn tôi trở thành một người có học vấn, có niềm tự hào chính đáng là dân Hà Nội và sẵn sàng xa Hà Nội theo tiếng gọi của Đảng.

Rồi tôi rời Hà Nội vượt Trường Sơn về miền Nam tham gia chiến đấu và viết, Hà Nội vẫn theo chúng tôi trên đường hành quân. Một cánh phượng ép khô do bạn gái Hà Nội tặng. Một chiếc áo dệt kim Đông Xuân trong ba lô. Một đêm trời lạnh ở Trường Sơn bỗng nhớ một đêm ở ngoại thành. Một cơn sốt vật vã khô khát đã thèm một ly nước đá chanh ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ…Tôi cố gắng rèn luyện để quen với cuộc sống kháng chiến và “giấu đuôi Hà Nội” nhưng không rõ sao tôi vẫn bị phát hiện. Một lần hành quân cùng tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bình Giã ở chiến khu D. Lúc nghỉ mười phút, tôi đi lại nhìn các đơn vị khác đi qua mặt, không hề nói và cũng không hát. Nhưng một số chiến sỹ “ba sẵn sàng” đi qua đều nhận ra và vẫy tay cười rất tươi: “Nhớ Hà Nội không anh?”. Tôi giật mình làm sao họ nhận ra tôi? Mãi sau này gặp nhau anh em mới kể rằng: giữa một Trung đoàn bộ đội Nam Bộ nét mặt rắn rỏi, đen xạm vì nắng gió lại có một “thư sinh” mặt trắng, môi đỏ chót, đi lại “yểu điệu”…thì chắc chắn là dân Hà Nội “mới vô” thôi!

“Cánh Hà Nội” luôn nghe đài và thông tin với nhau về tình hình ta bắn máy bay Mỹ, về từng khu phố ở Hà Nội bị đánh phá. Đó là mấy ngày cuối tháng 12 – 1972. Tôi nghe đài đưa tin: Giặc Mỹ đã đánh phá phố Lý Quốc Sư, bom và rốc két đã rơi và nàh số 35, 37 mà gia đình tôi lại ở nhà số 33. Tôi run lên, ra rừng ngôi khóc một mình. Ba má tôi, các anh em tôi, bà con trong ngõ phố có sao không? Đêm đó, một cháu bé lại vô tình hát bài “cả nước đứng lên hướng về Thủ đô. Trời Hà Nội hôm nay lửa hờn bốc cháy…”. Thế là tôi vừa khóc, vừa viết bài tuỳ bút “Hà Nội ơi có chúng tôi đáp lời!” đăng trên báo Giải phóng số 1- 1 – 1973. Một anh ban Nam bộ, bây giờ làm bí thư tỉnh uỷ, đã xúc động chép bài báo đó vào sổ tay và giữ cho đến hôm nay. Báo Nhân Dân số Tết năm 1997, nhân kỷ niệm 25 năm “Điện biên phủ trên không” đã đăng lại bài này với lời giới thiệu “Một bài báo viết trong nước mắt”.

Bây giờ Thành phố Hồ Chí Minh có một “Ban liên lạc cán bộ Hà Nội”. Khác với các tỉnh thành khác, chúng tôi không lập “Ban liên lạc đồng hương Hà Nội” bởi vì ít người gốc Hà Nội, mà toàn dân cả nước về Hà Nội công tác ở các cơ quan trung ương và Hà Nội. Hàng năm chúng tôi họp mặt mừng ngày giải phóng Thủ đô, chào Tết nguyên đán và chúc thọ các đồng chí lão thành. Điều đáng quý: tuy gọi nôm na họp mặt “cán bộ Hà Nội” nhưng lại gồm các đồng chí có quê ở cả nước, đặc biệt rất đông các đồng chí Miền Nam đã cộng tác nhiều năm ở Hà Nội. Ai đã công tác ở Hà Nội thì đều tham gia sinh hoạt ở tổ chức “nghiệp dư” này. Chúng tôi đã ra tập sách “Nhớ về Hà Nội” nhân kỷ niệm 45 năm giải phóng Thủ đô và tập thơ “nhớ về Thăng Long – Hà Nội” nhân kỷ niệm 990 năm thành lập Thăng Long.

Đông đảo anh em đã công tác ở Hà Nội đều thích mấy câu thơ của tôi viết cũng là “tâm sự” của một người sống xa Hà Nội:

Dù đi khắp mọi đường, mọi lối
Ngày đêm vẫn thương nhớ Thủ đô
Nơi ấy có một thời sôi nổi
Và một người con gái đợi chờ…

Bây giờ sống xa Hà Nội hàng ngàn cây số, song tôi vẫn luôn có mặt ở Hà Nội vì công việc, vì ba má tôi đã nằm lại trên đất Hà Nội, vì anh em bạn bè thân thiết đang sống ở Hà Nội và vì Hà Nôi là thủ đô của tất cả người Việt Nam. Đến Hà Nội, tôi vẫn có những đêm ngồi yên lặng bên Hồ Gươm, lang thang trong công viên Lê Nin hay lững thững trên đường Quang Trung để đón hương hoa sữa…Là dân Hà Nội từ hơn 50 năm về trước và có một trái tim luôn nóng bỏng vì Hà Nội, tôi luôn buồn vì bên cạnh bao sự đổi mới của Hà Nội, chúng ta đã giữ gìn chưa thật tốt mảnh đất “ngàn năm văn vật”: từ cảnh quan, đường xá, đến con người, lời nói, cách đối xử…những hạt sạn đó làm cho người Hà Nội đi xa trở về ngơ ngác, phiền muộn.

Đinh Phong
Theo Báo Người Hà Nội


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu