Điều đáng ghi nhận ở đây là cách hai nghìn cây số, Hà Nội đã ảnh hưởng đến tôi như vậy. Ý muốn rồi trở lên một người viết văn, tôi có từ bé và ý muốn ấy dần dần mãnh liệt. Cha tôi chạy vạc mặt để cho tôi đi Hà Nội học, mỗi tháng gửi cho tôi sáu đồng.
Một buổi sáng mùa đông, trên chuyến tàu xuyên Việt tôi ra đầu toa, gặp một người bạn thân của tôi ở đầu toa bên kia, hai đứa chúng tôi vẫn là hai đứa nhỏ nhất trong lớp, học với nhau từ bé. Hà Nội sẽ giúp chúng tôi học. Năm ấy, chúng tôi vừa mười bảy.

Những năm Hà Nội trước cách mạng ấy, với riêng tôi, là một số những năm đẹp nhất đời tôi. Tôi cứ như người được sống trong giấc mộng của mình. Những cảnh trí, những địa điểm mà tôi gặp trong sách báo , tôi đều tìm thăm hết. Tôi làm được một việc mà người Hà Nội chẳng mấy người làm là bỏ trọn một ngày để đi bộ quanh Hồ Tây.
Tôi làm một việc mà ít người làm nữa là lại bỏ một ngày, mang bánh mỳ theo để ăn và ở trong Văn Miếu. Hà Nội trong tôi lẫn trộn với thơ văn như vậy. Đêm đêm đi học về , hay ở thư viện về, trên các đường phố Hà Nội vắng lặng, trăng sáng xanh thơm ngát mùi hoa sữa và hoa hoàng lan, cái cảm giác sung sướng của một người học trò nghèo nhưng tin chắc rằng mình có biết thêm hôm nay một điều gì mới còn vang vọng trong tôi đến tận bây giờ.
Tại đây, những ngày trước cách mạng tháng Tám, tôi chứng kiến cảnh đói khủng khiếp năm Ất Dậu, người ta vừa đi vừa ngã quay ra chết và các hướng đạo sinh vội vã chở đi chôn những xe chất đầy xác, trong đống xác còn những người chưa chết hẳn. Tôi là một tráng sinh đó, ngày ngày xách ra đi xin mỗi nhà một nắm cơm để phát cho những người ăn xin đông nghịt ở phố Quán Sứ, đến lúc không còn gì để cho nữa, tôi bật khóc theo người ăn xin. Đến lúc chúng tôi, những học sinh quê miền Trung, miền Nam sợ đói lây cả đến bản thân mình, chúng tôi vội vã về quê.
Rồi lại vội vã trở lại Hà Nội vì cách mạng tháng Tám đã bùng nổ. Tôi lần lượt ra ga tiễn những đoàn quân Nam tiến, ngày càng đông, vào chiến đấu ở quê tôi. Ngày vang lên tiếng nổ tàn sát của thực dân Pháp ở phố Hàng Bún, tôi đang ở ngoài ga. Những ngày trước, tôi đã sung vào một độ tuyên truyền xung phong khu Bẩy Mẫu. Tám giờ năm phút tối ngày 19 tháng 12 năm ấy, đèn tắt phụt, ầm lên một tiếng dữ dội, thế là cuộc kháng chiến bắt đầu. Tôi quyết định đi bộ về Nam chiến đấu ở quê hương.
Vậy đó mà đã tám năm tôi mơí trở lại Hà Nội. Đối với tôi, cuộc trường chinh tám năm đi chống Pháp là để trở lại Hà Nội hôm nay và mãi mãi, viết văn mãi mãi.
Tôi nghĩ rằng trong mỗi truyện ngắn của tôi viết về các địa phương bao giờ cũng có mặt một nhân vật Hà Nội, nhân vật đó là tôi. Tôi đã lăn trái tim người Hà Nội của tôi đến các nơi ấy, nghe phản ứng của nó là viết.
Tôi tự nhận là một nhà văn Hà Nội, mặc dù tôi chưa viết được nhiều. Có một lần, về nhà, tôi được bà hàng xóm giao lại một bức thư kèm theo một món quà. Thư viết: “Tôi vừa đọc truyện Người Hà Nội của anh đăng trên tạp chí Tác phẩm mới. Anh hãy tiếp tục viết như thế”. Tôi ơn người viết thư suốt đời. Hà Nội có những độc giả tuyệt vời và chờ mong chúng ta như vậy. Tôi ở Hà Nội nửa đời người, nhưng chưa viết được cái gì về Hà Nội đáng giá. Nhưng tôi không mạo muội khi nói rằng chính nhờ Hà Nội mà tôi trở lên người cầm bút phục vụ cho đất nước.
Nguyễn Thành Long
Theo Báo Người Hà Nội
- 30/03/2010 - Hà Nội xưa và nay trong mắt chàng rể Mỹ
- 26/03/2010 - Nỗi nhớ trong rừng
- 26/03/2010 - Hà Nội đã "Tây hóa" như thế nào?
- 26/03/2010 - Rồi một ngày sâm cầm sẽ trở lại
- 26/03/2010 - Xe điện Bờ Hồ: Nghe rì rầm, leng keng
- 22/03/2010 - Hà Nội - Thành phố đặc biệt
- 22/03/2010 - Nỗi nhớ trong rừng
- 19/03/2010 - Nhà HN học Nguyễn Vinh Phúc: Tết ngày nay bị biến tấu nhiều
- 19/03/2010 - Tranh truyền thần trên gốm Bát Tràng
- 19/03/2010 - Sắc màu Hà Nội tôi yêu















