Hanoi Website

Thăng Long phi chiến địa

“Sự thực lịch sử là hơn nửa thế kỉ sau khi Vương triều Lý định đô tại Thăng Long, Thủ đô của đất nước Đại Việt đã phải đứng trước nguy cơ tấn công của quân xâm lược Tống. Các năm 1022, 1058 do những xích mích, xung đột ở vùng biên giới Đông-Bắc do Nhà Tống gây ra, Nhà Lý đã cho quân sang đánh đòn cảnh cáo tại Cảng Khâm. Năm 1075, trước sự tập trung binh lương lớn của quân Tống ở các cảng biển, địa phương gần biên giới, ráo riết chuẩn bị cuộc tiến công lớn bằng hai đường bộ và thủy vào nước ta, Lý Thường Kiệt đã thực hiện kế sách “Tiên phát chế nhân”, “Ngồi yên đợi giặc không bằng ra trước để chặn thế mạnh của giặc”, cho quân Đại Việt đánh chiếm các cảng Khâm và Liêm; rồi vây diệt thành Ung Châu. Chiến dịch tiến công của Lý Thường Kiệt sang đất địch thành công, bàn đạp Nam chinh của quân Tống đã bị công phá, nhưng dã tâm xâm lược Đại Việt của Nhà Tống không suy giảm. Năm 1077, đại quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy theo đường bộ với sự hỗ trợ của cánh quân thủy của Dương Tùng Tiên theo đường biển tiến vào nước ta. Quân bộ giặc bị chặn đứng trước phòng tuyến Sông Cầu, quân đường biển bị quân thủy ta do Lý Kế Nguyên chỉ huy chặn ở Mũi Ngọc, Trà Cổ, hai cánh quân địch không phối hợp được với nhau. Đó là thời điểm bài thơ “Nam quốc sơn hà...” bất hủ của Lý Thường Kiệt vang lên. Chủ động đánh giặc từ xa, ngăn và diệt giặc từ sông Cầu, Thăng Long thời Lý được bảo vệ nguyên vẹn.

Trong thời Trần, quyết tâm chặn giặc từ xa cũng được triều đình thể hiện rõ. Cả ba lần quân Mông-Nguyên xâm lược nước ta, cả ba lần Nhà Trần đều để chúng đặt chân lên đất Thăng Long. Nhưng vào được tòa thành trống, không nhân lực, vật lực, quân giặc không thể biến Thăng Long thành bàn đạp tiến công tiêu diệt quân đội và triều đình Nhà Trần, càng không thể biến Thăng Long làm lị sở thống trị non sông Đại Việt. “Thăng Long phi chiến địa” còn có ý nghĩa ở phương diện này. Để rồi, trong khi để cho giặc “trú tạm” trong thành Thăng Long (như sau này năm 1788-1789 Quang Trung cũng cho quân Thanh trú tạm trong một chiếc bẫy chiến lược), đấy là lúc đầy tự tin, Trần Thủ Độ khảng khái và quyết đoán: “Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu tôi trước đã”.

Thế kỉ 15, “vì họ Hồ chính sự phiền hà…” mà đất nước rơi vào ách đô hộ của giặc Minh; sự nghiệp cứu nước của Lam Sơn-Lê Lợi-Nguyễn Trãi cũng có mục tiêu giải phóng Thăng Long (lúc này mang tên Đông Quan). Song lượng thế giặc trong thành Đông Quan rất mạnh, quân Lam Sơn sau khi đánh trận tiêu diệt lớn ở Tốt Động-Chúc Động chỉ tiến hành bao vây thành. Vả lại trong thành lúc này còn nhiều dân, không thể biến Thăng Long thành chiến địa bởi hao tổn xương máu binh lính, nhân dân. Lê Lợi-Nguyễn Trãi một mặt thực hiện bao vây Đông Quan bằng quân đội và cả bằng những bức thư “tâm công” tiến công Vương Thông và quân Minh bằng đạo lí hòa bình, nhân nghĩa Việt Nam, một mặt tiến quân đánh chặn đạo quân Minh tiếp viện ở Lạng Sơn. Sau chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang đại thắng, quân Minh ở Đông Quan phải bước vào “Hội thề Đông Quan” để được an thân rút về nước.

Với vị trí là kinh đô hoặc ngay cả khi không phải là kinh đô nhưng với vị trí đặc biệt của thủ phủ cả miền Bắc, thời nào Thăng Long cũng là mục tiêu chủ chốt của các đạo quân xâm lược hòng chiếm ưu thế chính trị-quân sự-kinh tế để thôn tính toàn cõi, áp đặt sự thống trị toàn diện. Đây cũng là điều tất yếu thường thấy trong lịch sử thế giới. Thăng Long bị giặc đánh chiếm nhưng thời nào người Thăng Long cũng chủ động đứng ở tuyến đầu cùng binh sĩ triều đình, dân binh các địa phương đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mãn Thanh, chính nhân dân các vùng Đầm Mực, Ngọc Hồi đã giúp quân của Nguyễn Huệ công phá và bao vây, tiêu diệt quân giặc, người dân nội thành Thăng Long cũng có sáng kiến làm “con rồng lửa” đốt trại giặc Thanh. Để rồi quân giặc bị bất ngờ, hoảng loạn mà chịu chết ở Đống Đa hay đạp lên nhau mà chạy, đứt cả cầu phao sông Hồng, xác trôi theo dòng nước xiết. Để rồi đoàn quân chiến thắng của Quang Trung Nguyễn Huệ tiến vào thành giữa rừng người dân chào đón.

Đầy đường già trẻ cùng nhau nói
Thăng Long nay lại thuộc về ta

Tiếp nối truyền thống Thăng Long, Đông Đô, thành phố Hà Nội đã nêu một tấm gương đánh giặc kiên cường với hình ảnh tiêu biểu của Hoàng Diệu năm 1882 “treo mình tử chiến giữ thành”. Đặc biệt từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, ngọn lửa yêu nước “Tổ quốc hay là chết”, “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ” đã bùng cháy mạnh mẽ trong mọi thế hệ người con Hà Nội. 60 ngày đêm, những chiến sĩ Thủ đô “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã là một biểu tượng cao đẹp mở đầu cho cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của toàn dân tộc để đánh thắng các đế quốc xâm lược Pháp, Mỹ. Hà Nội bị quân Pháp chiếm đóng nhưng người Hà Nội tiến công ngay trong lòng địch mà những trận đánh sân bay Bạch Mai, Gia Lâm đã là những trận phối hợp tuyệt vời với Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Thời đánh giặc Mỹ xâm lược, Hà Nội hậu phương-Thủ đô thiêng liêng “Mỗi người làm việc bằng hai”, Hà Nội “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Hà Nội  “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội. Hà Nội trực tiếp đương đầu với giặc nhà trời Mỹ, phải thành chiến địa chịu sự tàn phá tàn bạo của những trận bom từ cuộc chiến tranh tối tân của đế quốc số 1 thế giới nhưng Hà Nội đã đứng vững để làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, thiêu rụi pháo đài bay B.52-một trận quyết chiến chiến lược thời hiện đại. Hà Nội chiến địa và chiến thắng anh hùng đã làm cho vùng đất, vùng trời Thăng Long xưa càng trở nên linh thiêng, càng làm cho khát vọng hòa bình, xây dựng Thủ đô và toàn bộ non sông đất nước trở nên cháy bỏng, thiêng liêng.

Theo Quân đội nhân dân


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu