Hanoi Website

Những năm tháng khó quên

Tôi được sinh ra và lớn lên ở làng Lương Yên, tổng Thanh Nhàn, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông cũ, nay là phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Đây là một làng ven nội sát đê Bình lao (nay là đường Trần Khát Chân).

Năm 1945, tôi mới 17 tuổi nhưng trước đó tôi đã phải chứng kiến người chết đói đầy đường do bọn phát xít Nhật bắt  ta nhổ lúa trồng đay phục vụ cho chiến tranh của chúng. Đại bộ phận dân các tỉnh lân cận nhất là Thái Bình không còn ruộng cấy phải ra Hà Nội kiếm sống và đã phải chết đói như vậy. Tôi chứng kiến rất rõ những người nằm chưa chết hẳn chúng vẫn vứt lên xe bò chở đi chôn, có người chúng chôn mẹ còn đứa con nhỏ cứ ngồi khóc không thành tiếng. Những cảnh đó lại càng thôi thúc tôi lòng căm thù giặc. Cũng năm đó chú ruột tôi là Nguyễn Hữu Gia hoạt động cách mạng bị địch bát giam tại nhà tù Sơn La về ông đã cùng với đồng chí Nguyễn Văn Đào và Nguyễn Hữu Nghiêm đều là cán bộ Hoạt động bí mật. Các đồng chí tổ chức các hội hoạt động bí mật.

 

Các chiến sĩ quyết tử bảo vệ ngã ba Lương Yên. Ảnh: tư liệu

Tôi cũng bắt đầu tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc do chị Mão phụ trách từ giữa năm l945. Chúng tôi được học tập, nghe nói chuyện tình hình trong nước và thế giới. Hà Nội bước vào thời kỳ sôi sục chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám.

Chiều ngày 17/8/1945, Hội Phụ nữ cứu quốc chúng tôi cùng các tổ chức Thanh niên cứu quốc, Công nhân cứu quốc v v … được đi dự cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà Hát Lớn để biến cuộc mít tinh của Tổng hội viên chức do Nhật lập ra thành cuộc mít tinh của cách mạng. Hôm đó các tổ chức quần chúng ở nội ngoại thành và các huyện thuộc Hà Đông sát Hà Nội đều đi dự cuộc mít tinh đông tới hàng vạn người. Cuộc mít tinh vừa bắt đầu, lá cờ đỏ sao vàng rất lớn từ trên diễn đàn thả xuống mọi người vui mừng reo vang: “Cờ Việt minh! Cờ Việt minh!”.

Khi mọi người đang sôi sục khí thế thì các đồng chí trong đoàn thanh niên Hoàng Diệu xuất hiện. Đồng chí Lê Phan giành micro của chúng báo tin Nhật đã đầu hàng đồng minh, mời đồng bào nghe cán bộ Việt minh nói chuyện. Tiếp đó đồng chí Nguyễn Khoa Diệu Hồng lên kêu gọi đồng bào đoàn kết ủng hộ Việt minh tiến lên khởi nghĩa, quần chúng dự mít tinh nhiệt liệt hưởng ứng. Chúng tôi đi biểu dương lực lượng diễu hành qua các đường phố chính của Hà Nội, cùng hô vang khẩu hiệu và đi theo sự hướng dẫn của các cán bộ phụ trách đã phân công.

Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày lễ Độc lập chị em mặc đồng phục quần đen chun gấu, áo sơ mi nâu, đội mũ ca-lô có ngôi sao lên Quảng trường Ba Đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước đồng bào cả nước và thế giới. Ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức ra đời. Từ giờ phút lịch sử này Hà Nội là Thủ đô của cả nước.

Ở Thanh Lương, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập, đồng chí Nguyễn Hữu Nghiêm được cử làm Chủ tịch và đồng chí Nguyễn Văn Sâm làm Phó chủ tịch.

Các tổ chức quần chúng cũng được thành lập như đoàn Thanh niên cứu quốc do anh Hoàng Ngọc Định phụ trách. Hội Phụ nữ cứu quốc do chị Nguyễn Thị Mão làm Bí thư, các chị Lê Thị Phan, Nguyễn Thị Tuyển (tức Hương), Nguyễn Thị Hồi và tôi là Uỷ viên Ban chấp hành Phụ nữ cứu quốc Anh Nguyễn Văn Đào được cấp trên cử về phụ trách công tác Đảng ở vùng Thanh Nhàn, Lương Yên.

Để bảo vệ thành quả của cách mạng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài, các tổ chức quần chúng có nhiệm vụ thực hiện chủ trương của Chính quyền cách mạng vận động nhân dân tích cực tăng gia sản xuất để chống đói, tổ chức học bình dân học vụ để xoá nạn mù chữ chống giặc dốt và chuẩn bị tốt khí tài cho cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Những ngày cuối năm l946, Hà Nội rất căng thẳng cùng cả nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Thực hiện chủ trương của Đảng, Hội Phụ nữ chúng tôi vận động đồng bào người già và trẻ em đi sơ tán, những chị em ở ngoài đường phố thì cùng tự vệ đục tường thông nhà nọ sang nhà kia để phục vụ chiến đấu, còn vận động đồng bào ném bàn ghế, giường tủ ra đường làm chướng ngại vật cản đường bọn chúng.

Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được tốt, xã Thanh Lương đã kiện toàn bộ máy lãnh đạo mới. Uỷ ban kháng chiến xã được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Vương làm Chủ tịch và đồng chí Nguyễn Hữu Gia làm Phó Chủ tịch. Anh Đào được cấp trên chỉ định làm Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ Liên khu II.

Phụ nữ cứu quốc và Thanh niên cứu quốc được phân công cứu thương, tiếp tế, 1 trung đội nữ du kích đã cắt tóc ngắn để chuẩn bị cùng anh em sẵn sàng chiến đấu.

20 giờ tối ngày 19/12/1946, trong lúc chúng tôi đang kiểm điểm công việc chuẩn bị thì điện toàn thành phố vụt tắt. Chúng tôi biết đó là hiệu lệnh chiến đấu, giờ cứu nước đã đến, toàn thành phố nổ súng.

Các trận chiến đấu liên tục diễn ra trong toàn thành phố không lúc nào ngớt tiếng súng. Ở khu vực Liên khu II tại phố Lò Đúc, Bạch Mai. Du kích xã Thanh Lươngđã góp sức cùng bộ đội Vệ quốc đoàn tấn công vào các sào huyệt, vị trí đóng quân của địch như nhà thương Đồn Thủy, Stai quai, Cảng Hà Nội, Viện Pa - xtơ (Pasteur) v.v…Tổ cứu thương nhiều chị chưa quen tiếp xúc với máu nên lúc đầu có chị rất sợ mà vẫn phải nghiến răng lại để băng bó cho thương binh để chuyển về tuyến sau. Các đồng chí còn vào viện Pa-xtơ lấy bông băng thuốc, kim tiêm v.v… để phục vụ cho cuộc chiến đấu lâu dài.

Cho đến ngày cuối tháng Chạp giáp Tết Nguyên đán (15/1/1947), mặt trận Vĩnh Tuy bị vỡ, địch đánh gọng kìm từ Vĩnh Tuy qua ngã tư Trung Hiền Ngã Tư Vọng.Lúc này các đơn vị thuộc mặt trận Lò Đúc, Thanh Lương được lệnh rút qua Nam học xá (nay là cánh đồng Quỳnh Lôi, qua Bạch Mai sang khu Đại học Bách Khoa).

Trên đường rút của quân ta, địch bắn trả dữ dội, nhiều đồng chí Đã hy sinh trên cánh đồng  Quỳnh Lôi như chị Sâm, anh Định v.v…

Ngay đêm chúng tôi ở trong các hầm tại Việt Nam học xá, phát hiện địch có những ám hiệu khả nghi nên các anh em bộ đội đã tìm cách để rút khỏi vòng vây địch.

Chúng tôi và một số người cũng bí mật đi theo ra tới Sông Tô Lịch, các đồng chí bộ đội bơi qua nhẹ nhàng, còn phụ nữ chúng tôi phải dùng quần làm phao bơi qua, khi sang bờ bên kia là cánh đồng làng Tám. Trời mờ mờ sáng, mới biết không phải chỉ riêng chúng tôi mà rất nhiều anh chị em đều chủ động tìm lối thoát. Như vậy chúng tôi đã thoát khỏi vòng vây của địch. Số anh chị em còn ở lại chưa kịp thoát ra còn lại rất đông, sáng hôm sau bị chúng bắn hết.

Chúng tôi rút về xã Yên Duyên gặp lại đơn vị, rồi về cơ quan Phụ nữ Thành hội đóng ở cầu Chồm gần đất Hoà Bình. Sau khi ổn định, chúng tôi được Thành hội cho tham gia các lớp học tập để chuẩn bị sau này vào công tác trong vùng tạm chiếm.

Đã 60 năm trôi qua nhưng trong tâm trí tôi vẫn hiện lên những hình ảnh trực tiếp đối mặt với kẻ thù trong những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô, nhớ tới những đồng đội của tôi, nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng, hoặc các đồng chí đã từng sống và chiến đấu trong nhà tù đế quốc người còn, người mất. 8 năm Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, các đồng chí đã hiến dâng tuổi thanh xuân, tuổi đẹp nhất của cuộc đời cho Thủ đô Hà Nội và nền độc lập của Tổ quốc. Còn tôi, từ một thiếu nữ ở ngoại thành đã lớn lên, trưởng thành là nhờ cách mạng. Đó cũng là những năm tháng đẹp nhất để lại kỷ niệm không bao giờ quên trong cuộc đời tôi.

Theo Hà Nội - Bản hùng ca bất tử mùa đông 1946


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu