Hanoi Website

Hà Nội, 37 thứ hàng…

Rồi phố Hà Nội trong tranh của Bùi Xuân Phái cũng thấp thoáng những gánh hàng rong. Không có hàng rong, hẳn Thạch Lam đã chẳng thể viết “Hà Nội băm sáu phố phường”, mà ở đó, người ta nhận ra hàng nước cô Dần, có chú Khách tay kéo lách cách bán nộm bò khô, có những quán phở gánh... là những thứ vô cùng thân thuộc.

Thú thực, cho đến giờ, tôi vẫn có cái thú đi chầm chậm theo sau những chiếc xe đạp chở hoa trên phố mà lòng nhớ lại hình ảnh gánh hàng hoa trong một tác phẩm cùng tên của Nhất Linh và Khái Hưng. Cô gái trong “Gánh hàng hoa” ấy, một người chân quê, nhưng lại là nguồn cảm hứng cho sáng tác bất tận của một nhà văn. Gánh hàng hoa lãng mạn mà chất chứa cái tảo tần của những phụ nữ Việt, gánh theo cả nỗi lo cơm áo... Bao năm trôi qua, những hàng hoa trên phố vẫn cần mẫn mang cái đẹp đến cho ngõ ngách Hà thành, để những cô gái làm đẹp thêm ngôi nhà, làm đẹp thêm những cửa hàng của chính mình. Cứ gần Tết, trong cái rét là thấy hơi ấm của hoa đào len về trong sắc đỏ của những hàng hoa. Đầu tháng tư, là những loa kèn. Và mùa Phật đản, thoáng bóng những bông sen được các chị chở đi trên các con đường để ai nhìn cũng thấy lòng mình thanh lại...

Dù muốn hay không, những gánh hàng rong đã tạo nên một nét riêng của Hà Nội, cái riêng không thể chối cãi. Những lúc lan man như thế, tôi lại nhớ tới mấy câu hát của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn về Hà Nội. Cái ông nhạc sỹ phương Nam không nhiều ngày sống ở đất Bắc này sao mà khéo thế. Ừ, đã là Hà Nội, thì phải là cốm sữa vỉa hè, là quán cóc liêu xiêu.

Thăng Long – Hà Nội xưa 36 phố phường quanh co. Phố nào, hàng nấy, 36 phố phường, là 36 thứ hàng: Hàng Gai, Hàng Chĩnh, Hàng Đường, Hàng Đào... Phải chăng, hàng rong, là hàng thứ 37, thứ hàng không được đặt tên, nhưng không ngõ ngách nào của Thăng Long, của Hà Nội lại không có. Hơn một lần, tôi tự nhủ, một mai, nếu không có những cô gái chở hoa trên phố, không có các chị, các mẹ gánh những gánh cốm vòng len lỏi trên khắp các khu phố cổ, không còn những quán cóc liêu xiêu, Hà Nội, có còn là chính nó hay không?

Hàng rong mang đến một cái đẹp lãng mạn cho đất Kẻ Chợ. Nhưng nó vừa mang danh thơm, lại cũng vừa mang tiếng xấu. Ấy là hàng rong góp phần vào việc gây ùn tắc và tai nạn giao thông, ấy là hàng rong cũng phải chịu trách nhiệm với mất vệ sinh nơi đô thị. Bởi thế, nhiều tuyến phố đã có lệnh cấm hàng rong, rồi đây, có thể là tất cả các tuyến phố sẽ không còn hàng rong nữa. Không thể phủ nhận, những tuyến phố cấm hàng rong đã phần nào sạch đẹp hơn. Nếu cấm hẳn hàng rong, thành phố chắc chắn sẽ phần nào bớt đi sự nhếch nhác, sự uế tạp. Nhưng bên cạnh cái mừng, cũng có người không khỏi ngậm ngùi… Nếu điều đó xảy ra, nhiều người sẽ mất đi chỗ dựa miếng cơm manh áo và có thể, Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất đi một nét văn hóa đặc trưng vốn đã hình thành và phát triển từ bao đời nay, ăn sâu vào tiềm thức của người thành phố.

Mùa thu khi gió heo may về, không mấy ai, nhất là các bà, các chị không mua lạng cốm làng Vòng gói trong lá sen chấm ăn với chuối tiêu trứng cuốc. Mùa hè, nghe tiếng rao “phớ” của bác bán tào phớ, thói quen cố hữu của người Hà Nội là mua lấy một hai bát, để rồi cảm nhận cái mát ngọt ở đầu lưỡi... Có nhà tư tưởng nói rằng: Vấn đề không phải là người ta sản xuất và sử dụng cái gì, mà quan trọng hơn là cái cách người ta làm ra và sử dụng cái đó như thế nào, đấy chính là văn hóa. Nếu công nhận điều ấy đúng, thì ắt chúng ta sẽ không nhìn nhận hàng rong chỉ như những tác nhân gây ra mất vệ sinh, gây mất mỹ quan đô thị.

Nói về văn minh, đất nước Italia xinh đẹp, hẳn văn minh hơn nước ta nhiều lần. Nhưng thử hỏi, một ngày kia, du khách sẽ nghĩ sao, nếu trên những con kênh ngang dọc của thành phố Venice nổi tiếng, thay cho những chiếc thuyền chèo tay, là những chiếc xuồng máy nổ ầm ầm chở du khách đi thăm thành phố? Không đâu xa, ở đô thị cổ Hội An, có một cặp vợ chồng chuyên nghề gánh nước thuê, nếu một mai, vợ chồng ông già gánh nước qua đời, hẳn người ta sẽ thấy thiếu thiếu một cái gì đó. Đất và người Hội An, mấy chục năm qua đã quá quen với cảnh một đôi vợ chồng già chuyên gánh nước này, quen đến nỗi, cặp vợ chồng ấy, trở thành một “di sản”, một phần không thể thiếu của di sản văn hóa thế giới Hội An.

Để xây dựng một thủ đô văn minh, liệu có nhất thiết chúng ta phải phá bỏ tất cả những nét đẹp văn hóa truyền thống ẩn chứa trong những gánh hàng rong của Hà Nội đã tồn tại hàng bao đời, đã từng góp phần tạo nên giá trị văn hoá của thủ đô một ngàn năm tuổi? Nên chăng, khi xem xét vấn đề hàng rong, chúng ta cần phải tính đến việc gìn giữ, kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hóa truyền thống ngoài các yếu tố kinh tế, vệ sinh và môi trường? Nghĩ đến đấy, lòng tôi lại nao nao nhớ tới cô gái làng Ngọc Hà trong “Gánh hàng hoa”, lại nhớ bóng những người phụ nữ liêu xiêu trong tranh của danh họa Bùi Xuân Phái...

Một nhà nghiên cứu văn hóa nói với tôi rằng, tại sao người ta không nghĩ đến văn minh hóa, văn hóa hóa hàng rong? Ở bên hồ Hoàn Kiếm, một không gian thấm đẫm truyền thống như thế sẽ rất hợp với những cô gái hàng rong vận bộ cánh tứ thân, nhưng gánh hàng ấy, được quản lý chặt chẽ, để đảm bảo những yếu tố văn minh đô thị. Chắc rằng, trong không gian ấy, người ta sẵn sàng bỏ ra gấp mấy lần mức chi phí bình thường, để ngồi bên một lò than, với những bắp ngô nướng hoặc một bát chè xanh... Đơn giản, đó là một không gian văn hóa. Và thêm một điều chắc chắn, du khách quốc tế, dù có ngưỡng mộ sự phát triển của Hà Nội, họ vẫn sẽ thích dừng lại bên các chị, các mẹ trong màu áo truyền thống bên những hàng rong ấy mà bấm máy ảnh hơn là đến một khu nhà cao tầng nào đó để chụp hình như một kỷ niệm về Hà Nội, về Việt Nam.

Theo Kinh tế đô thị


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu