Hanoi Website

Thời Lý: Định đô Thăng Long

Mùa đông, tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Lý Công Uẩn được lập làm vua, sáng lập Vương triều Lý (1009-1225), miếu hiệu là Thái Tổ.

Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968-979) và Tiền Lê (980-1009). Đó là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mối đe dọa của giặc ngoài, thù trong. Với địa thế "Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" (Tiến có thể đánh thắng, thoái có thể bảo vệ), rất lợi hại của Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khôi phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đập tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Như vậy trong vòng 41 năm (968-1009), kinh đô Hoa Lư xứng đáng với sự lựa chọn của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, đã hoàn thành vai trò lịch sử của một thủ đô tạm thời.

Nhưng khi bước vào đầu thế kỷ XI, những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc, gắn liền với việc thống nhất quốc gia kể từ thời họ Khúc đến họ Ngô, Đinh, Tiền Lê, đã tạo điều kiện đưa đất nước ta, dân tộc ta bước vào một thời kỳ mới. Đó là thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc, đặc biệt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa-xã hội. Nhiệm vụ đó được đặt lên vai triều Lý, ngay từ khi mới thành lập. Lúc này, Hoa Lư với vị trí và địa thế của nó, không đáp ứng được vai trò kinh đô của triều đại, vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước.

Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh đô đối với vận mạng của đất nước và vương triều. Sử gia Ngô Thì Sĩ đã nhìn nhận việc dời đô của Lý Thái Tổ rất tinh tế và chí lý: "Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng đô ở đấy, núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng trăm họ giàu có, phía tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng, phía bắc thấu đến Ninh Sóc, Kinh Bắc. Miền đông nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên lạc bằng trạm, là nơi trung tâm của nước, bốn phương chầu về, núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể làm cho nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền. Hình thế nước Việt thật không nơi nào hơn được nơi này... Lý Thái Tổ lên ngôi, chưa vội làm việc khác, mà trước tiên mưu tính việc định đô, đặt đỉnh, xét về sự quyết đoán sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không thể theo kịp". (Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên. Nxb KHXH, H. 1997, tr. 194).

c Chiếu ban ra, tất cả các quan văn võ trong triều đều vui mừng nói: "Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế lâu dài, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu của nhiều người, việc lợi như thế, ai dám không theo". (Toàn thư, Sđd, tập I, tr. 241).

Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), đoàn thuyền ngự của nhà vua từ Hoa Lư đến Đại La "tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên gọi là thành Thăng Long (Rồng bay)" (Toàn thư, Sđd, tập I, tr. 241).

Tên gọi Thăng Long chứa đựng một ý nghĩa lớn lao. Trước hết tên gọi Rồng bay (Thăng Long) vạch được khí thế mạnh mẽ vươn lên của kinh thành đất nước, của toàn dân tộc. Nhưng tên gọi "Rồng bay" còn thể hiện một khát vọng hòa bình, đời sống hạnh phúc, tự do của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ... Hơn thế nữa, biểu tượng Rồng bay còn chứa đựng ý niệm thiêng liêng trở về cội nguồn Rồng - Tiên và mơ ước về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.

Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiện trọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long. Và từ đó, Thăng Long đã vươn lên như Rồng bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đô của nước Đại Việt, là trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa lớn nhất của cả nước.

Theo myhanoigroup.com


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu