Hanoi Website

Hội tao đàn tại kinh đô Thăng Long

Thời Lê Thánh Tông, được các nhà sử học coi là đỉnh phát triển cao nhất của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam trong thời kỳ thịnh trị của nó. Dưới triều Lê Thánh Tông, trật tự xã hội phong kiến đã ổn định, chính quyền phong kiến đã vững mạnh và mọi thứ phép tắc, kỷ cương đã được xây dựng có quy củ. Hoàn cảnh lịch sử ấy, tất nhiên tạo ra một tâm lý tự mãn của một giai cấp đã xây dựng xong địa vị thống trị, một tinh thần hưởng thụ, nhưng lo lắng cố duy trì mãi cảnh thịnh vượng của chế độ phong kiến của một giai cấp có ý thức rõ ràng về vai trò và sứ mệnh của mình. Đó chính là nguyên nhân hình thành nên Hội Tao Đàn và cũng là nội dung căn bản trong những tác phẩm của Lê Thánh Tông và các thành viên trong hội.

Năm 1495, Lê Thánh Tông thành lập Hội Tao Đàn. Sử cũ chép: Lê Thánh Tông “thấy hai năm Quý Sửu, Giáp Dần thóc lúa được mùa, đặt các bài ca vịnh để ghi điềm lành. Nội dung gồm những bài về đạo làm vua, khí tiết bề tôi, vua giỏi tôi hiền, nhớ bậc anh tài kỳ tuấn và đùa viết vội thành văn… nhân gọi là Quỳnh Uyển cửu ca thi tập” (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 513). Nhà vua làm bài Tựa cho thi tập, tự xưng là Tao Đàn nguyên súy, tập hợp 28 văn thần, gọi là “Tao Đàn nhị thập bát tú”, theo vần 9 bài thơ xướng ấy mà họa lại. Hai mươi tám hội viên Tao Đàn, theo chính sử là: Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Ngô Luân, Ngô Hoán, Nguyễn Xung Xác, Lưu Hưng Hiếu, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương, Ngô Thầm, Ngô Văn Cảnh, Phạm Trí Khiêm, Lưu Thư Ngạn, Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Tông Miệt, Ngô Quyền, Nguyễn Bảo Khuê, Bùi Phổ, Dương Trực Nguyên, Chu Hoán, Phạm Cẩm Trực, Nguyễn Ích Tốn, Đỗ Thuần Thứ, Phạm Nhu Huệ, Chu Huân, Lưu Địch, Đàm Thận Huy, Phạm Đạo Phú. Có sách còn chép thêm: Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh, Lê Tuấn Ngạn, Ngô Sĩ Liên, Phạm Phúc Chiêu, Thái Thuận…, trong đó Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận là Tao Đàn phó nguyên súy, Lương Thế Vinh là Tao Đàn sái phu, Thái Thuận về sau cũng là Tao Đàn sái phu, rồi Tao Đàn phó nguyên suý. Như vậy, tổng số người tham gia Tao Đàn lên tới trên 30 người. Khi Lê Thánh Tông mất (1497), không thấy nói đến hoạt động của Hội Tào Đàn nữa.

Sự xuất hiện của Hội Tào Đàn đánh dấu bước phát triển cao của phong trào sáng tác văn học cung đình do Lê Thánh Tông đề xướng, khuyến khích. Quan niệm văn hóa của Hội Tao Đàn là quan điểm Nho gia, dùng văn học phục vụ nhà nước phong kiến. Có điều, lúc này nhà nước phong kiến đang còn có vai trò tích cực, giai cấp phong kiến đang còn nghĩ đến quyền lợi của dân tộc, nên trong những bản tụng ca vẫn thể hiện một số yếu tố tích cực, như tinh thần trách nhiệm đối với lịch sử, đối với dân tộc, niềm tự hào về đất nước thịnh trị, có văn hiến, sự quan tâm đến cuộc sống hòa bình, yên ấm của trăm họ v.v…

Theo myhanoigroup.com


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hà Nội mùa thu