Trong những tư liệu lịch sử, sau khi thăm Nhật Bản và chia tay với Phan Bội Châu về nước, tại Hà Nội, Phan Chu Trinh có gặp Lương Văn Can định lập một nghĩa thục (trường làm việc nghĩa), kiểu như Khánh ứng Nghĩa Thục của Nhật. ít lâu sau, Phan Bội Châu ở Nhật về, nhân cơ hội đó cụ Phan, cụ Lương và cụ Tăng (Tăng Bạt Hổ) họp nhau ở phố Hàng Đào quyết định mở cửa Đông Kinh Nghĩa Thục với mục đích: khai trí cho dân, mở những lớp dạy học không lấy tiền.
Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng vì ông lớn tuổi hơn cả, bản tính ôn nhu mà có khí tiết. Ông sinh năm 1854 ở làng Nhị Khê, tỉnh Hà Đông. Năm 21 tuổi, đậu cử nhân, không nhận chức giáo thụ của triều đình, cũng không tham gia Hội đồng thành phố Hà Nội theo đề cử của thực dân. Nguyễn Quyền được cử làm Giám học. Ông sinh năm 1869, ở làng Thượng Trì, tỉnh Bắc Ninh. Đậu tú tài khoa Tân Mão, được bổ huấn đạo Lạng Sơn. Nhưng ông xin nghỉ một năm để tham gia Nghĩa Thục.
Mặc dù chưa được giấy phép, khoảng tháng 3-1907 trường vẫn tạm thời mở hai lớp chuyên dạy quốc ngữ; học sinh khoảng 60-70 người phần đông là con cháu hội viên. Ngôi nhà số 4, gác trên, phố Hàng Đào do Lương Văn Can cho mượn trở thành điểm dạy học đầu tiên của trường. Mãi tháng 5, giấy phép của Thống sứ Bắc Kỳ mới được cấp; từ đó trường khuếch trương càng mạnh hơn, phải mướn thêm ngôi nhà số 10 bên cạnh.
Trường tổ chức thành bốn ban: Ban giáo dục, Ban cổ động, Ban tu thư và Ban tài chính.
Việc dạy học có ba bậc là tiểu học, trung học và đại học. Thực ra chương trình học không được hoạch định rõ ràng và hệ thống. Đại loại, tiểu học dạy những người mới học Quốc ngữ, trung học và đại học dạy cho những người lớn đã thông chữ Hán, hoặc muốn học chữ Pháp. Tất cả đều căn cứ theo trình độ hiểu biết của học sinh mà xếp thành lớp, trong lớp tuổi học sinh cũng không đều. Các môn học có sử ký, địa lý nước nhà, toán, vẽ, một số kiến thức khoa học. Tham gia dạy về Hán văn có Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc. Hoàng Tăng Bí... Dạy Việt văn và Pháp văn có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học...
Về Hán học, thì học tân thư Trung Quốc, nhất là sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu được dùng làm tài liệu giáo khoa. Sách học quốc ngữ dạy những kiến thức cơ bản về đất nước, về lịch sử Việt Nam. Số học sinh ngày càng tăng có tới 40 lớp và hơn nghìn học sinh.
Trường cũng thường tổ chức diễn thuyết, bình văn vào các tối mồng một và rằm hàng tháng. Người ngoài trường dự nghe rất đông, có cả quan lại, binh lính, viên chức. Trong các buổi diễn thuyết, diễn giả thường bình luận các bài in trên Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo, là cơ quan ngôn luận của trường, hoặc nói chuyện về đề tài lịch sử, về Cách mạng Pháp 1789, về sự nghiệp của Hoa Thịnh Đốn (Washington)... Phan Chu Trinh cũng thỉnh thoảng đến diễn thuyết ở trường.
Biên soạn và dịch thuật cũng là một nội dung lớn của Đông Kinh. Sách giáo khoa chữ Hán in bản gỗ, trên giấy lĩnh làng Bưởi như Nam quốc địa dư, Nam quốc vĩ nhân truyện; nhất là Quốc dân độc bản được in lại rất nhiều lần vẫn không đáp ứng đủ yêu cầu. Sách quốc ngữ thì in bằng thạch, chủ yếu là những bài ca dễ đọc, dễ nhớ, đại loại như Kêu hồn nước, Á tế á, Đề bỉnh quốc dân, Thiết diễn ca được phổ biến khá rộng. Những sách được dịch ra đầu tiên là những bộ tân thư như Trung Quốc tân giáo khoa thư, Văn minh tân học sách... được xem như cương lĩnh hành động chung của sĩ phu duy tân bấy giờ chủ trương dùng văn tự nước nhà, hiệu đính sách vở cốt thiết thực, sửa đổi phép thi, cổ võ nhân tài chấn hưng công nghệ, xuất bản báo chí...
Quỹ nhà trường lúc đầu hầu như không có. Chỗ dựa tài chính chủ yếu là các hội viên, các khoản "lạc trợ" của những người có tinh thần yêu nước. Theo cụ Lê Đại, "ấy vậy, có lúc nhà trường đứng ra thu tiền ủng hộ không xuể". Phong trào Duy Tân chung quanh Đông Kinh Nghĩa Thục lan rộng trên các lĩnh vực khác: Nhiều công ty buôn bán, nhiều hiệu buôn mở ra; thậm chí các cụ đã tính đến việc lập đồn điền khai hoang, gieo trồng lương thực, khai khoáng hầm mỏ...
Phong trào "nghĩa thục" chẳng mấy lúc tỏa ra các địa phương ở Bắc Kỳ rồi lan rộng khắp nước. Bắt đầu là ở Hà Đông, quê hương của nhiều sáng lập viên nghĩa thục có tên tuổi như Vũ Trác, Hoàng Tăng Bí; ở Hoài Đức còn có ba phân hiệu nghĩa thục ở thôn Canh, Tây Mỗ, Tân Hội; ở Hưng Yên cũng có hai huyện có nghĩa thục, lại còn mở thêm một hiệu buôn nội hóa là Hưng Lợi Tế. ở Hải Dương, Thái Bình, nghĩa thục cũng phát triển khá mạnh mẽ, lại còn tổ chức ra nhiều hội ái hữu, tương tế. Thậm chí, nghĩa thục của Thái Bình còn cử người đi liên hệ với phong trào chống Pháp của Hoàng Hoa Thám, muốn ứng viện cho nghĩa quân Yên Thế...
Trước tình hình vậy, chính quyền thực dân không thể làm ngơ cho phong trào tiến triển. Cuối năm 1907 chúng ra lệnh đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục và đầu năm 1908, ra lệnh cấm việc hội họp diễn thuyết ở miền trung. Khi xảy ra vụ chống sưu thuế ở Trung Kỳ (3-1908), và vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (6-1908), thực dân Pháp nhân đó quy trách nhiệm cho sĩ phu duy tân và thẳng tay đàn áp. Hàng trăm "khoa mục" bị tù đày, xử tử. Những trường học, hội buôn đều bị giải tán.
Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã đi vào lịch sử dân tộc như một cuộc vận động chính trị của cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ trong thời đại mới.
Vũ Văn Sĩ
- 14/11/2009 - Kháng chiến chống Pháp: Hà Nội chiến đấu
- 14/11/2009 - Kháng chiến chống Pháp: Trang sử mới của dân tộc
- 14/11/2009 - Kháng chiến chống Pháp: Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám
- 13/11/2009 - Kháng chiến chống Pháp: Hà Nội những ngày đầu kháng chiến
- 13/11/2009 - Hà Nội thời kỳ chống Pháp
















