Theo các cụ cao tuổi kể về lịch sử thì Thủy Hải long vương chính là Lạc Long Quân chồng bà Âu Cơ, người đã sinh ra bọc 100 trứng, nở ra 100 người con, là thủy tổ của dân tộc Việt Nam ta. Còn Đào Trực là người phủ Hoài Đức đã theo Lê Hoàn đi đánh quân Tống thắng lợi và sau đó lại đi xuống phía Nam đánh vào kinh Chămpa, đè bẹp ý chí xâm lược của nước này.
Căn cứ vào những sắc phong còn lại thì đình được xây dựng vào năm Minh Mệnh 21 (1840). Đình quay mặt hướng Đông Nam bao gồm: sân đình nhà bia, đại đình và hậu cung.
Sân đình Trung Văn khá rộng có tường bao quanh. Cách hiên đình 3m là 1 bể cạn trong đó có cây cảnh và hòn non bộ. Bên phải đình là 1 nhà bia mới xây kiểu phương đình, 4 mái lợp ngói ta, 3 phía xây kín, phía trước mở 1 cửa vòm cuốn, hai bên có câu đối.
Đại đình 5 gian làm kiểu chồng diêm 8 mái, lợp ngói ta, chính giữa bờ nóc có mặt trời, bời giải và đầu đao đều trang trí rồng leo. Gian giữa đình có 2 đôi đầu dư khá đẹp, vi kèo gian bên làm kiểu ván mê, chạm khắc tỉ mỉ hình hổ phù ở trên cùng, xung quanh là các họa tiết trang trí. Cốn ở gian ngoài là những mảng chạm rất công phu các cảnh sinh hoạt của sĩ, nông, lâu đài, hoa lá cách điệu và long, li, quy, phượng…
Hậu cung 3 gian, 1 gian nối với đại đình, kết cấu vì ván mê được chạm trổ công phu với lưỡng long chầu nguyệt. Cốn của toà hậu cung cũng được chạm trổ đề tài trúc hóa long, trung tâm là 1 đầu rồng lớn, xung quanh là 1 đôi trúc và 1 rồng nhỏ hơn, dưới là 1 con lân chạm long và chạm thủng. Hậu cung có ban thờ chạy suốt 2 gian, trên đặt nhiều tế khí đẹp.
Đình Trung Văn còn có những công trình điêu khắc đáng chủ ý như nhang án, bộ cửa võng lớn chiếm toàn bộ gian giữa đại đình, chạm thủng hình cửu long. Phía trên là 1 hoành phi lớn với 5 chữ “Dụng kỳ trung ư dân”. (Có lòng trung với dân). Ngoài đại đình cũng là 2 bức cửa võng và đặc biệt là 2 cuốn thư nền chạm gấm với các bài thơ ca ngợi công đức của các vị thần được thờ:
Thần nhi cách tú,
Tì thọ nhi tàng
Tạm dịch:
Thần thiêng giáng xuống
Khiến cho thọ trường
Ca ngợi phong cảnh quê hương
Sực sực kỳ đình ,
Duật quan sở thành.
...Dĩ hương dĩ tự,
Chung hòa thái bình.
Tạm dịch
Sừng sững kìa đình
Ngắm công trình thành
…Dễ tế dễ lễ
Hòa hợp thái bình
Câu đối có ít nhưng kiểu dáng đẹp, tạo hình lòng máng, nền triện gấm chữ vạn, xung quanh có diềm hoa dây buông rủ. Tất cả những hiện vật nói trên cùng giá gươm, long đình, chiêng trống, sắc phong và những đồ thờ tự khác hợp lại càng khiến cho ngôi đình càng tăng vẻ cổ kính, thiêng liêng về nghệ thuật kiến trúc cũng như quy thức thờ cúng.
Đình đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa năm 1991.
Theo Hà Nội - Di tích Lịch sử Văn hóa và Danh thắng, Doãn Đoan Trinh, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2002, tr704-706.
- 15/11/2009 - Đình Hạ Yên Quyết (đình Cót)
- 15/11/2009 - Đền Ngọc Sơn
- 15/11/2009 - Đình Hà Vĩ
- 15/11/2009 - Đền Voi Phục
- 15/11/2009 - Đình Nam Hương
- 15/11/2009 - Đình Trung Tự
- 15/11/2009 - Đình Trúc Lâm
- 14/11/2009 - Đình Triều Khúc
- 14/11/2009 - Đình Ngọc Hà
- 14/11/2009 - Đình Ngoài
















