Đình An Thái thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Dưới triều Lý Nhân Tông (1072-1127), chỗ hợp lưu của sông Tô Lịch và sông Thiên Phù nước xoáy vào chân thành Thăng Long làm xói mòn, có nguy cơ sụp thủng. Nhà vua sai đắp đê ngăn nước nhưng không thành. Lúc này thần mộng bảo: “Sáng sớm ngày nào đó, hễ thấy có một người đến bến sông này trước nhất thì nên theo ý muốn của người ta mà tiếp đãi một cách đầy đủ, rồi quẳng người ấy xuống sông mà phong cho làm Thần, lập miếu thờ tự mới có thể trấn áp đươc”. Quả nhiên sau có vợ chồng ông bà Vũ Phục bán dầu đi tới. Sứ giả phi ngựa về báo cho nhà vua. Nhà vua có ý thương xót rồi nói: “Nên theo lời
của Thần (thần mộng) đem tình thật hiểu bảo người ta, không nên ức hiếp”. Ông bà Vũ Phục khẳng khái nhận lời. Sứ giả hỏi: “Bình nhật ông bà thích thứ gì hơn cả”. Vũ Phục nói: “Đồ gà mái nấu cơm nếp”. Khi ăn xong, Vũ Phục ngửa mặt lên trời khấn: “Vợ chồng già này bỏ mình theo nước, trời cao có thấu xin chứng giám cho”. Liền đó tự gieo mình xuống nước, lúc ấy là ngày 30 tháng 11. Từ đây dóng sông phẳng lặng. Nhà vua trước đó vì lo lắng nên bị đau mắt, nay vui mừng nên bệnh cũng lành khỏi. Theo Minh đô sử của Lê Trọng Hàm thì người vợ nhảy xuống trước, người chồng nhảy theo sau. Vì thế đến nay hàng năm vào ngày tế thần, lúc nghinh giá kiệu vợ đi trước kiệu chồng Biển thờ ở đền đến nay vẫn viết 4 chữ “Âm dương hợp đức” (vợ chồng cùng làm việc đức).
Cảm công đức của vợ chồng Vũ Phục, nhà vua cho lập miếu thờ và sắc phong là Chiêu ứng phù vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, lễ nghi phẩm vật rất trọng thể, sắc phong cho ông bà làm Phúc thần. Rồi lại cho tìm con cháu ông bà Vũ Phục về để trông nom thờ tự. Nay họ Vũ làng An Thái đều là dòng dõi của ông bà cả. Hiện nay ở vùng Bưởi có hai đình thờ ông bà Vũ Phục là đình An Thái và đình Bái Ân. Sách chép An Thái và Bái Ân thuộc huyện Quảng đức, phủ Phụng Thiên (nay thuộc quận Tây Hồ, Cầu Giấy, Hà Nội) bia đá ở Bái Ân đời Cảnh Hưng cũng ghi như vậy. Cổng đình An Thái còn đôi câu đối:
Bạch Hạc tâm đầu lưu thánh tích,
Thăng Long thành giác kỷ thần công.
Tạm dịch:
(Bạch Hạc sông đầu còn dấu thánh,
Thăng Long thành góc chép công thần)
Trong đình Bái Ân thờ ông bà Vũ Phục cũng có đôi câu đối:
Hộ quốc an dân đại nghĩa Lê triều truy cô sắc,
An thành dụ tật hồng ân Lý đế bảo tràng tôn.
Tạm dịch:
Phò nước giúp dân nghĩa lớn Lê triều còn sắc đó,
Yên thành, khỏi bệnh, ơn Vua triều Lý mãi bền lâu.
Đền thờ ông bà Vũ Phục được xây dựng từ thế kỷ XI, nhưng tới thời Vua Lê Hy Tông (1680-1705) mới được trùng tu lớn hơn và được tôn tạo qua nhiều triều đại.
Ngoài cùng là nhà tam quan, trên tam quan có hoành phi viết bốn chữ “Mỹ tục khả phong”, tiếp đến là sân gạch và nhà thờ ba gian trong có long ngai thờ các vị Thành hoàng làng. Đặc biệt trong đình có một tấm bia và câu đối ghi việc bắc cầu qua sông để vào trong Thành cổ, cho biết về việc quy hoạch thành Thăng Long xưa.
Đình còn giữ được cuốn Thần phả, 5 đạo sắc phong trong đó có đạo sắc phong đời Quang Trung ngũ niên (1792). Các sắc phong từ triều Lê đến triều Nguyễn sau này đều có viết “Hộ quốc tý dân” (phò nước giúp dân) là những mỹ từ cao quý dành cho các “Phúc thần” có công lao đặc biệt.
An Thái và Bái Ân có lệ rước giao hiếu hàng năm vào ngày ông bà Vũ Phục hy sinh (30-11), hai đình xứng đáng với lời ca tụng từ đời này sang dời khác ghi trên câu đối ở trong đình:
Đức mậu an dân công tịnh hiệp
Danh lư vĩnh thế quốc gia phong.
Tạm dịch:
(Đức thịnh yên dân vợ chồng cùng hợp sức,
Tiếng thơm muôn thuở nước nhà phong).
Đình đã được công nhận là di tích lịch sử năm 1994.
Theo Hà Nội Di tích Lịch sử và Danh thắng, Doãn Đoan Trinh, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2000, tr33-35
- 22/11/2009 - Đình Dương Hà
- 22/11/2009 - Đình Đông Thiên
- 22/11/2009 - Đình Đông Ngạc
- 22/11/2009 - Đình, đền Hòa Mã
- 22/11/2009 - Đình Đại
- 22/11/2009 - Điện Huy Văn
- 21/11/2009 - Đền Lừ
- 18/11/2009 - Đền Hỏa Thần
- 18/11/2009 - Đền Huy Văn
- 17/11/2009 - Đền Hai Bà Trưng (Đền Đồng Nhân)
















