Đền Ngọc Sơn được xây trên hòn đảo phía bắc Hồ Gươm cách bờ bắc khoảng 200m, bờ đông khoảng 50m. Hòn đảo nhỏ này vốn là một cồn cát của khúc sông Nhĩ Hà (sông Hồng) xưa, có diện tích 2067m vuông, nhô cao hơn một nước 0,7m.
Tương truyền vào thời Trần, trên cồn cát này người ta đã xây 1 ngôi đền để thờ những anh hùng liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Nguyên - Mông. Về sau qua các biến cố binh lửa, đền bị đổ nát. Đến đời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang cho dựng ở đây cung Khánh Thụy làm nơi vui chơi hóng mát; và còn cho đắp 2 núi đất ở bờ hồ phía đông đối diện với đền Ngọc Sơn, gọi là núi Ngọc Bội và núi Đào Tai. Cung Khánh Thụy đã bị Lê Chiêu Thống cho đốt phá năm 1786, khi nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc diệt họ Trịnh. Còn trên 2 núi Ngọc Bội và Đào Tai, danh sĩ Nguyễn Văn Siêu (thế kỷ XIX) cho xây Nghiên mực và tháp hình bút lông gọi là Tháp Bút.
Đến năm 1841 một hội Từ thiện đứng ra quyên tiền sửa chữa lại đền. Văn bia đền Ngọc Sơn có đoạn: “Gần đây có hội Hướng thiện do các cụ trong khoa mục sáng lập ra. Đền xưa nay vẫn thờ đức Văn Xương - Đế Quân, nhưng chưa có đề thờ. Đến nay các con cụ Tín Trai có thiện tâm tự nguyện nhường lại cho Hội đền Ngọc Sơn. Hội để nguyên đến Quan đế, chỉ sửa chữa gác chuông, xây đền thờ đức Văn Xương...” (Văn bia Đế Quân 1943).
Như Vậy đến năm 1943 ngôi chùa nền cũ cung Khánh Thụy gọi là đền Ngọc Sơn. Đền thờ Quan đế thánh quân (tức Quan Công đời Hán); Văn Xương đế quân (vị thần trông coi về văn học). Lã Tể hay Lã Đồng Tâm (người đời Đường, đỗ Tiến sĩ, cáo quan về tu hành, đắc đạo được suy tôn là 1 vị tiên). Về sau thờ cả đức Trần Hưng Đạo người tổng chỉ huy quân dân thời Trần, đại phá được quân Nguyên - Mông. Trong gian thờ Đức thánh Trần có đôi câu đối chữ nôm:
Võ lược luyện hùng binh, Lục Thuỷ, nghìn thu ghi sử Việt,
Văn tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên.
Từ ngoài vào, qua cổng đền với 2 cột trụ lớn nối liền với 2 trụ nhỏ, khoảng giữa 2 cột lớn và nhỏ có viết 2 chữ lớn tô son Phúc, Lộc, tương truyền là của Phó bảng Nguyễn Văn Siêu viết. Đi qua hàng trụ, ngay bên trái là núi Độc Tôn có 1 tháp đá năm tầng. Đế tháp là 1 ụ tròn, đắp đá hộc xung quanh, người ta gọi ụ này là núi Độc Tôn. Tháp xây hình vuông, nhỏ dần về phía trên. Đỉnh tháp tạc 1 chỏm nhọn mang hình bút lông chĩa thẳng lên trời, thân bút tròn lẳn và ngắn vì vậy có tên là Tháp Bút. Ngăn cách mỗi tầng tháp là 1 mái nhô ra ở cả bốn phía (15cm), mỗi mặt của các tầng tháp đều có 1 ô cửa giả, sâu vào phía trong lòng tháp 10cm. Ở phía bắc, trong 3 ô cửa tầng dưới, cụ Siêu viết 3 chữ lớn “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh). Trong ô cửa tầng dưới phía tây, có khắc bài châm của Nguyễn Văn Siêu soạn: “Ngọn núi Độc Tôn 5 tầng Tháp Bút. Tháp nhờ Núi mà thêm cao, Núi nhờ Tháp mà thêm đẹp… Ôi, núi là tượng trưng về võ cõng, Tháp là tượng trưng về văn vật... Núi và Tháp có một nhân tố chung để cùng nhau lưu truyền mãi mãi”.
Tháp Bút là một công trình kiến trúc đẹp, điểm tô thêm vẻ đẹp của thắng cảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn. Từ Tháp Bút đi vào gần phía hồ, trên nền núi Ngọc Bội xưa, Nguyễn Văn Siêu đã cho xây một Đài Nghiên. Đài Nghiên có hình trái đào đặt trên 1 cửa cuốn. Nghiên đá này do 3 chú cóc bằng đá đội lên. Tất cả nằm trên bệ gạch rộng. Nghiên làm theo hình thức nửa trái đào. Trên mặt nghiên có đề 4 chữ “Thượng nguyên Giáp Tý” (tức tháng giêng năm 1864). Xung quanh thành nghiên có khắc bài vịnh của Nguyễn Văn Siêu khi cho dựng công trình này: “Đời xưa đẽo đá làm nghiên, xuân thư chép chữ.... khoét đất làm nghiên, ghi kinh Trang tử . Đá nghiên này đấy chẳng giống hình gì, chẳng vuông thẳng tròn, tác dụng dị kỳ, chẳng thấp chẳng cao, giữa là vị trí, cúi xuống Hồ Gươm, trông lên Bút Tháp, nghiên khi bao hàm chung màn trời đất”.
Ở mặt trước đài nghiên phía dưới tường hoa lan can có đắp nổi 2 chữ “Đài Nghiên”. Dưới 2 chữ đó đắp nổi 1 bức cuốn thư lớn, trong cuốn thư này sao lại bài vịnh trên phiến đá, để một người dễ đọc. Bức cuốn thư này được làm thêm trong dịp trùng tu vào năm Đinh Sửu (1937).
Hai bên cuốn thư đắp nổi đôi câu đối
Bát đảo mặc ngấn hồ thủy mãn,
Kình thiên thế bút, thạch phong cao.
Tạm dịch:
(Ngấn đen vỗ đảo nước hồ đầy,
Thế bút chống trời, đá núi cao)
Hai bên Nghiên xây 2 bức tường bao chạy thẳng sang hai bên làm cho Đài Nghiên có dáng dấp 1 cổng thành. Phía sau Đài Nghiên, hai bên tường lối đi vào có 2 đại tự “Thiện”, “Ác”. Ở đỉnh chính giữa đắp 1 hình hổ phù, quay vào phía cầu Thê Húc. Phía dưới có 4 chữ “Ảnh Động Long Xà" (Rồng rắn chuyển mình) và 3 chữ Hán “Ngọc Sơn từ” (Đền Ngọc Sơn).
Vào tới cầu Thê Húc, cây cầu này cũng được Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1864 đồng thời với Tháp Bút, Đài Nghiên. Trên thành cầu có 3 chữ nổi “Thê Húc kiều” (cầu Thê Húc) với ý cầu đón ánh sáng ban mai (Húc là ánh sáng mặt trời mới mọc). Cầu có 15 nhịp, 32 chân cột tròn xếp thành 16 đôi). Trên mặt cầu lát ván gỗ, sơ mầu đỏ thẫm, chữ mầu vàng.
Có bài thơ khuyết danh được người đời ca tụng nói về Hồ Gươm và cầu Thê Húc đã in trong Nam thi hợp tuyển do Đốc học Nguyễn Văn Ngọc biên tập.
Bóng tháp lô nhô lớp sóng cồn,
Dịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non.
Nước trong chưa vẩn tăm thầm kiếm,
Đường rộng còn trơ dấu pháp môn.
Kim cổ treo chung tranh thuỷ mặc.
Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn.
Nghìn thu suy thịnh gương còn đó,
Coi thử uống trăng khuyết lại tròn.
Đi hết cầu, vào đền, ta gặp ngay Đắc Nguyệt Lầu, (Lầu được trăng) đó là gác chuông làm 2 tầng mái cong có dấp dáng như Khuê Văn các trong Văn Miếu. Nguyễn Văn Siêu lại cho xây Trấn Ba Đình ở giữa sân trước mặt tòa nhà chính của đền. Trấn Ba Đình được dựng trên 8 hàng cột. Mái đình 2 tầng, 8 mái. Trong có tấm bia lớn đề ghi sự tích của đền. Năm 1947, bia đá và Trấn Ba Đình bị phá hủy. Kiến trúc hiện nay là sản phẩm của lần dựng lại vào năm 1952. Trên 2 cột trụ phía ngoài có đôi câu đối:
Kiếm hữu dư linh, quang nhược thuỷ,
Văn tòng đại khối, thọ như sơn.
Tạm dịch:
Khí thiêng gươm sáng trong như nước,
Khối lớn văn chương vững tựa non.
Khu đền chính Ngọc Sơn được xây dựng ở trung tâm Đảo Ngọc, ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ, quanh năm xanh tốt. Đền dựng theo hướng nam trông ra “Qui sơn tháp” (tức Tháp Rùa) . Đền Ngọc Sơn làm theo hình chữ Tam, bao gồm tòa tiền bái, toà chính điện và hậu cung. Ngôi đền thứ nhất nằm ở phía bắc thờ Quan Thánh Đế quân.
Đền Văn Xương còn gọi là nhà tiền tế có qui mô kiến trúc lớn, hình chữ Nhị. Tiền tế gồm 3 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, nhà dạng 2 tầng 4 mái, lợp ngói ta. Phía trong thông với nhà đại bái. Nhà đại bái nằm ngang, 3 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc. Nhà có lòng rộng, nền cao 0,40cm so với tiền tế và đại bái. Gian giữa đặt hương án, sập thờ, đồ tự khí. Hai bên treo chuông và khánh đồng.
Trong cùng là nơi tọa lạc của đức Thánh Trần. Tượng được thể hiện trong tư thế ngồi, đầu đội mũ miện 3 lớp, ở giữa chạm mặt nguyệt, 2 cánh chuồn đứng. Tượng mặc áo đại trào, trang trí rồng mây. Hai bên có 2 pho tượng văn và võ đứng Thị giả. Nhóm tượng ngoài cùng có Quan Công với Châu Thương và Quan Bình.
Ngoài việc thờ tự các nhân vật trên, còn một số tượng Phật như A Di Đà. Đền Ngọc Sơn là một di tích lịch sử văn hóa ở Hà Nội còn giữ được nhiều bản khắc gỗ in sách quí. Số ván này có trên 8000 (tám nghìn) bản, có kích thước khoảng (22 x 32cm). Có trên 250 loại, có loại là 1 quyển sách lớn gồm hàng nghìn ván, có loại chỉ có 3 hoặc 4 ván. Các ván in này in ra nhiều loại sách khác nhau, sách văn học, sách thuốc, sách kinh điển nôm... Có bộ sách Ma Nhai kỷ Công Văn rập theo bài văn và nét chữ của Nguyễn Trung Ngạn (1298-1370) thời Trần. Các ván khắc đã được phòng Bảo tồn Bảo tàng Hà Nội trước đây cho in dập và đưa vào kho. Đền có nhiều bia đá: như bia Đế Quân (1843), bia trong miếu Văn Xương (1865)...
Đền Ngọc Sơn nằm trong quần thể di tích Hồ Gươm đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa năm 1980.
Theo Hà Nội - Di tích Lịch sử Văn hóa và Danh thắng, Doãn Đoan Trinh, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2002, tr462-467.
- 16/11/2009 - Chùa Đỗ Xá
- 16/11/2009 - Chùa Châu Long
- 16/11/2009 - Chùa Láng
- 15/11/2009 - Tháp Hòa Phong - Chùa Báo Ân
- 15/11/2009 - Đình Hạ Yên Quyết (đình Cót)
- 15/11/2009 - Đình Hà Vĩ
- 15/11/2009 - Đền Voi Phục
- 15/11/2009 - Đình Nam Hương
- 15/11/2009 - Đình Trung Văn
- 15/11/2009 - Đình Trung Tự
















