Tấm bia quí của chùa hiện còn lưu giữ được dựng vào năm Vĩnh Tộ 6 (1624), đã ghi lại rất rõ vị trí của ngôi chùa: ”Chùa Đông Môn...phía trên giáp Cầu đá, dưới giáp đường Diên Hưng, phía trước giáp đường cắt, phía sau giáp Đông Ngục”…
Chùa Cầu Đông, từ khi được xây dựng đã trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, chùa được trùng tu sửa chữa nhiều lần.
Qua các tấm bia của chùa cho thấy, chùa Cầu Đông được sửa chữa lớn và mở rộng vào năm Vĩnh Tộ 6 (1624), năm Dương Hoà 5 (1639) Vĩnh Thịnh 8 (1712), Gia Long 15 (1817) và một số lần sửa chữa nhỏ.
Kiến trúc của chùa hiện nay được kết cấu theo kiểu kiến trúc của thời kỳ đầu nhà Nguyễn, song vẫn phảng phất dấu vết của thời cuối nhà Lê. Các mảng chạm bong, chạm nổi, được thể hiện tập trung trên vì kèo ván mê và hai cốn, cửa gian tiếp giáp giữa tiền đường và hậu cung. Các nét chạm mặt hổ phù, rồng, mây, hoa lá… là sự kế thừa nghệ thuật chạm khắc của thế kỷ XVII-XVII.
Chùa Cầu Đông cũng như nhiều ngôi chùa cổ khác của làng xã Việt Nam là nơi thờ Phật, một tôn giáo từ lâu đã phát triển ở nước ta.
So với các chùa trên địa bàn Hà Nội, hệ thống tượng của chùa Cầu Đông gần 60 pho. Bộ tượng Tam thế, được tạo tác vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, hình thức gần giống nhau. Đây là 3 pho tượng đẹp, quí hiếm, đặt giá trị nghệ thuật cao.
Trên Phật điện còn có pho tượng Tuyết Sơn, nét điêu khắc đẹp, tinh tế, gần gũi với tượng Tuyết Sơn của chùa Tây phương, chùa Nành (Gia Lâm). Đây là loại tượng rất quí hiếm trong nghệ thuật tạo tác của người Việt. Thần tượng được tạc theo kiểu áo buông lửng trên vai, để lộ tấm thân gầy guộc, nhưng vẫn toát lên vẻ thanh tao.
Cùng với Tuyết Sơn là tượng Di Lặc, tượng to gần bằng người thực, khuôn mặt với nụ cười rạng rỡ, bụng phệ. Nhìn tượng ta như thấy được sự no đủ hoan hỉ. Bộ tượng Thiên thủ thiên nhãn, tượng Thích và sơ sinh cùng toà Cửu Long và các pho tượng Mẫu…
Đặc biệt, ở chùa Cầu Đông – Hà Nội còn một ban thờ có tượng Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung, là những người có công lớn trong sự nghiệp mở mang nghiệp lớn ở thời Trần.
Phần đóng góp không nhỏ để nâng cao giá trị di tích chùa Cầu Đông là hệ thống các bia, bia đá cổ, có 3 bia của thời nhà Lê, bia sớm nhất có niên hiệu Vĩnh Tộ 6 (1624) cùng quả chuông Tây Sơn (1800) niên hiệu Cảnh Thịnh. Đây là những di vật cổ quý giá, qua đó giúp chúng ta tìm hiểu về quá khứ, địa danh, địa lý, nghệ thuật trang trí, tôn giáo, về sự phân hoá giai cấp, vè ruộng đất của xã hội đương thời.
Đặc biệt Hà Nội đang tiến hàng việc giữ gìn, bảo vệ khu phố cổ, thì những tư liệu, hiện vật quí của chùa Cầu Đông sẽ là một trong những nguồn tư liệu quan trọng để giúp các nhà chuyên môn nghiên cứu, bảo vệ thành công đề tài khu phố cổ, một địa chỉ văn hoá đặc biệt của Thủ đô Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hoá năm 1989.
Theo Hà Nội Di tích Lịch sử và Danh thắng, Doãn Đoan Trinh, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2000, tr89-91
- 17/11/2009 - Chùa Mật Dụng
- 17/11/2009 - Chùa Mai Phúc
- 16/11/2009 - Chùa Mai Động
- 16/11/2009 - Chùa Mạch Tràng
- 16/11/2009 - Chùa Lý Quốc Sư
- 16/11/2009 - Chùa Linh Quy
- 16/11/2009 - Chùa Kim Sơn
- 16/11/2009 - Chùa Huỳnh Cung
- 16/11/2009 - Chùa Đỗ Xá
- 16/11/2009 - Chùa Châu Long
















